NHA KHOA
 
  Thông tin chăm sóc sức khỏe răng miệng
TRANG CHỦ LIÊN HỆ ĐẶT HẸN
    Tin tức  |   Kiến thức  |   Công nghệ  |   Hỏi & Đáp  |   Danh bạ phòng khám  |   English
Tìm kiếm
  
NHA KHOA TỔNG QUÁT
Chỉnh hình răng hô, móm, lệch lạc kết hợp với phẫu thuật thẩm mỹ
Chỉnh hình răng
Kỹ thuật Implant
Kỹ thuật Mini Implant
Phục hình răng sứ
Kỹ thuật lấy tuỷ
Tẩy trắng răng bằng đèn Plasma
Hệ thống vệ sinh, vô trùng
 

 

Nha khoa Nhân Tâm
 
Address: 807, 3/2 street, 7 Ward, 10 Dict. Ho Chi Minh City, Viet Nam
Tell: (848) 39570229 - (848) 39575569 - (84) 989016780


Bước tiến mới trong ngành nha khoa Việt Nam: Implant xương gò má

 

Thanh Niên

Sau 6 tháng được phẫu thuật cấy implant vào xương gò má để trồng lại răng, ngày 1.6, bệnh nhân Lương Ngọc Linh (57 tuổi, TP.HCM) đã trở lại Trung tâm nha khoa Nhân Tâm để tái khám và cho biết hàm răng của bà đã phục hồi hoàn toàn như răng thật và cảm giác rất thoải mái.

Đây là ca phẫu thuật cấy implant vào xương gò má đầu tiên tại VN do TS-BS Võ Văn Nhân (ảnh) thực hiện. Thành công này đã đánh dấu một bước tiến mới của ngành implant nha khoa VN và mang lại niềm hy vọng lớn cho những bệnh nhân bị mất răng và tiêu xương hàm trên trầm trọng.
Chấm dứt những tháng ngày khổ sở vì không răng
Cô Ngọc Linh chia sẻ: “Tôi bị mất các răng hàm trên phía trong hơn 20 năm, chỉ còn một số răng phía trước, nhưng gần đây những răng trước này bị lung lay và phải nhổ bỏ. Mặc dù đã đi làm hàm răng tại nhiều nơi nhưng không sử dụng được do hàm răng bị lỏng, thường di động trong miệng, gây đau nên việc ăn uống rất khó khăn, thậm chí có thời gian dài chỉ ăn cháo. Không những vậy, mất toàn bộ răng hàm trên gây trở ngại khi giao tiếp và ảnh hưởng đến việc kinh doanh buôn bán. Những câu chuyện dở khóc dở cười cứ theo tôi suốt 20 năm qua mà không có cách nào giải quyết được”.
 
 
TS-BS Võ Văn Nhân hiện là Giám đốc Trung tâm nha khoa Nhân Tâm. Ông đã có nhiều báo cáo và đạt được nhiều giải thưởng về implant tại các hội nghị chuyên về implant nha khoa. Là một trong những người đi đầu trong lĩnh vực ghép xương và cấy implant để phục hồi răng thẩm mỹ trong những tình huống phức tạp bị thiếu xương trầm trọng do mất răng lâu ngày, do tai nạn và cả các khuyết hổng xương bẩm sinh như bệnh nhân khe hở môi vòm miệng.
 
Nhờ người thân giới thiệu, cô Linh được TS-BS Nhân khám và tư vấn phương pháp điều trị mới bằng cách cấy implant vào xương gò má để phục hồi răng.
“Một ngày sau phẫu thuật, tôi đã có một hàm răng tạm cố định chắc chắn và bắt đầu ăn được thức ăn mềm. Đến nay, sau 6 tháng phẫu thuật tôi đã có hàm răng cố định vĩnh viễn. Theo BS Nhân, hàm răng này làm bằng công nghệ hiện đại từ sứ nguyên khối được thiết kế và chế tạo tự động bằng máy tính nên có độ chính xác cao và được bắt vít cố định trên các trụ implant xương gò má. Hàm răng của tôi giờ đây không những đẹp mà còn cứng chắc như răng thật, không bị đau, không hôi miệng. Tôi cảm thấy rất thoải mái, tự tin trong giao tiếp chứ không khổ sở như trước đây”, cô Linh phấn khởi chia sẻ.
Chọn lựa giải pháp tối ưu để phục hồi răng
TS-BS Nhân cho biết: “Qua thăm khám và khảo sát cấu trúc 3 chiều của xương trên phim X-quang cắt lớp, tôi thấy xương hàm trên của bệnh nhân bị tiêu trầm trọng, đặc biệt là vùng răng sau, xoang hàm xuống thấp, xương bị tiêu cả theo chiều dọc và chiều ngang, xương còn lại chỉ một vài milimet và có chất lượng kém (xương xốp). Tình trạng này rất phổ biến ở VN vì bệnh nhân bị mất răng lâu ngày và đeo hàm giả tháo lắp trong nhiều năm.
Theo TS-BS Nhân, hiện nay, có hai phương pháp điều trị cho những bệnh nhân bị mất toàn bộ răng hàm trên và xương hàm bị tiêu trầm trọng.

TS-BS Võ Văn Nhân và ê kíp phẫu thuật

TS-BS Võ Văn Nhân và ê kíp phẫu thuật
Trong trường hợp của cô Linh, nếu điều trị theo phương pháp cũ (ghép xoang và cấy implant thông thường) thì tỷ lệ thành công thấp do phần xương còn lại ở vùng xoang hàm quá mỏng, có chất lượng kém nên khó nuôi dưỡng được xương ghép và implant không vững chắc dễ dẫn đến thất bại. Do vậy, để đảm bảo kết quả tốt hơn cho bệnh nhân Linh nên chọn phương pháp điều trị mới - cấy implant vào xương gò má. Đây là phương pháp rất khó vì implant có lộ trình dài, nằm gần các cấu trúc giải phẫu quan trọng như màng xoang hàm, thần kinh dưới ổ mắt, sàn ổ mắt... do đó, đòi hỏi BS phải có kỹ năng tinh tế, am tường giải phẫu học và nhiều kinh nghiệm để tránh tổn thương các cấu trúc quan trọng này. Mặc dù vậy, nếu làm chủ được kỹ thuật thì sẽ đem lại kết quả thành công cao và lâu dài. Theo BS Carlos Aparicio - chuyên gia về implant xương gò má - thì kỹ thuật này có tỷ lệ thành công cao từ 98 - 100%, là phương pháp hữu hiệu trong trường hợp tiêu xương nghiêm trọng nhất là ở vùng răng sau hàm trên.
Implant xương gò má là kỹ thuật chuyên sâu được GS Branemark giới thiệu năm 1998. Dựa trên kỹ thuật này, TS-BS Nhân đã cấy 2 implant xương gò má có chiều dài 50 mm, gấp 5 lần implant thông thường (10 mm) băng qua nhiều vùng giải phẫu quan trọng từ xương ổ răng qua xoang hàm đến xương gò má tạo nên 4 vị trí neo giữ ở xương vỏ. Do vậy, implant này rất vững chắc là yếu tố quyết định đến sự thành công lâu dài. Đồng thời, kết hợp cấy 4 implant thông thường ở vùng răng trước và gắn hàm răng tạm cố định tức thì cho bệnh nhân ngay sau phẫu thuật. Ca mổ được hoàn thành trong 4 giờ dưới phẫu thuật gây mê.
Cho đến nay, TS-BS Nhân đã phẫu thuật thành công cho thêm 2 trường hợp tương tự như bệnh nhân Linh. Đó là cô H.N.Hà (48 tuổi, Quảng Ngãi) và ông N.N.Minh (52 tuổi, Việt kiều Úc).
Thế mạnh của implant xương gò má
Implant xương gò má là giải pháp cứu cánh sau cùng cho những trường hợp đặc biệt như bệnh nhân bị tiêu xương hàm trên trầm trọng, bị thất bại sau ghép xoang cấy implant thông thường, bị cắt bỏ xương hàm sau điều trị ung thư hay bị dị tật hàm mặt.
Phương pháp này còn có ưu điểm giảm số lần phẫu thuật, rút ngắn thời gian nằm viện và thời gian điều trị. Đồng thời, cho phép bệnh nhân có răng tạm cố định tức thì, trong khi phương pháp cũ bệnh nhân phải để trống răng từ 4 - 6 tuần, thậm chí là lâu hơn mới có hàm răng tạm tháo lắp.
Bước tiến mới trong ngành implant nha khoa VN
Công trình implant xương gò má này đã được TS-BS Nhân báo cáo tại các hội nghị khoa học trong nước và đã nhận được lời mời báo cáo trong Hội nghị quốc tế tại thành phố Melboune Úc vào tháng 10 sắp tới. Đây là hội nghị lớn nhất của ngành phẫu thuật hàm mặt thế giới, tổ chức 2 năm một lần và qui tụ nhiều phẫu thuật viên nổi tiếng.

Bước tiến mới trong ngành nha khoa Việt Nam: Implant xương gò má - ảnh 3

Ảnh chụp X-quang 2 implant xương gò má ở vùng răng sau và 4 implant thông thường ở vùng răng trước

Bước tiến mới trong ngành nha khoa Việt Nam: Implant xương gò má - ảnh 4

Bộ răng mới

 

 
PGS-TS Lê Văn Sơn - Trưởng khoa Phẫu thuật và tạo hình hàm mặt Bệnh viện Răng Hàm Mặt T.Ư Hà Nội chia sẻ: “Tôi chân thành chúc mừng TS-BS Nhân đã thực hiện thành công kỹ thuật cấy implant xương gò má và tin rằng kỹ thuật này sẽ mang lại niềm hy vọng lớn cho những bệnh nhân bị mất răng có tiêu xương hàm trên trầm trọng hay những bệnh nhân bị cắt bỏ xương hàm trên do nhiều nguyên nhân. Để phục hồi chức năng ăn nhai và thẩm mỹ cho các bệnh nhân nêu trên, nếu không có implant xương gò má hỗ trợ thì không thể làm được hàm phủ hay cầu răng toàn bộ trên implant. Tuy nhiên, kỹ thuật này đòi hỏi phải có trang thiết bị đầy đủ, bác sĩ có tay nghề cao và nhiều kinh nghiệm. Đây được xem là một bước tiến mới của ngành implant nha khoa VN”.
Được biết, năm 2013, TS-BS Võ Văn Nhân cũng là người đầu tiên tại VN thực hiện thành công phẫu thuật dời dây thần kinh hàm dưới và cấy implant để trồng lại răng cho bệnh nhân Nguyễn Văn Lượm (TP.HCM) - người bị đạn bắn gãy xương hàm dưới gây mất răng trên 40 năm. Hiện bệnh nhân hoàn toàn bình phục và ăn nhai tốt, kể cả những thức ăn dai và cứng.
Chỉ trong thời gian 2 năm, TS-BS Võ Văn Nhân đã thực hiện thành công hai kỹ thuật phức tạp nhất trong ngành implant nha khoa. Đó là cấy implant xương gò má để phục hồi răng hàm trên và phẫu thuật dời thần kinh cấy implant để phục hồi răng hàm dưới. Với việc làm chủ hai kỹ thuật trên, TS-BS Nhân đã đánh dấu một bước tiến mới trong lĩnh vực implant nha khoa VN, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị phục hồi chức năng ăn nhai và thẩm mỹ cho những bệnh nhân có tình trạng lâm sàng phức tạp và bất lợi mà những kỹ thuật trồng răng cổ điển không thực hiện được. Cho tới nay, TS-BS Võ Văn Nhân là người đầu tiên tại VN thực hiện thành công 2 kỹ thuật phức tạp nêu trên.
 
Tin vui cho những người không có răng bẩm sinh
Ở VN và trên thế giới, có một số người không có răng từ nhỏ (bẩm sinh) do rối loạn phát triển ở một số cơ quan có nguồn gốc từ ngoại phôi bì. Hậu quả là bệnh nhân thường bị thiếu răng, thậm chí không có răng ở cả hàm trên lẫn hàm dưới dẫn đến xương ở 2 hàm đều bị teo đét, đến nỗi không thể làm được các loại hàm răng giả cổ điển.
Hiện nay, trên thế giới đã có giải pháp tối ưu để điều trị cho những trường hợp đặc biệt này. Đó là kết hợp cấy implant xương gò má để phục hồi răng hàm trên và phẫu thuật dời thần kinh cấy implant để phục hồi răng hàm dưới.
Tại VN, 2 kỹ thuật chuyên sâu này đã được TS-BS Võ Văn Nhân thực hiện thành công, sẽ đem lại cơ hội và hy vọng cho những bệnh nhân không có răng bẩm sinh được phục hồi lại chức năng ăn nhai và thẩm mỹ, cải thiện chất lượng cuộc sống, tự tin trong giao tiếp và hòa nhập cộng đồng.


Răng Implant trong vùng thẩm mỹ: không dễ chút nào!

Mặc dù răng implant có nhiều ưu điểm vượt trội so với kĩ thuật phục hồi răng cổ điển song phục hồi răng Implant trong vùng thẩm mỹ luôn là một thách thức đối với các nhà lâm sàng và là mối quan tâm lớn của bệnh nhân. Với vai trò là một phẫu thuật viên nhiều năm kinh nghiệm trong chuyên ngành implant, đã từng xử lí nhiều trường hợp phức tạp và đầy thách thức, tôi xin đưa ra một cái nhìn tổng quát, sâu sắc hơn về implant trong vùng thẩm mỹ, đồng thời, phân tích một số nguyên nhân đưa đến thất bại cũng như các yếu tố và giải pháp để đạt được sự thành công.

Từ khi được ra đời vào những năm 1960, cho đến nay, implant nha khoa đã trở thành một phương thức điều trị ngày càng phổ biến cho những bệnh nhân mất răng trên khắp thế giới, số implant được cấy mỗi năm ước tính trên toàn thế giới là 6,8 triệu implant, tại Mỹ là 910.000 implant*. Tại Việt Nam, implant đầu tiên được cấy vào năm 1992 cho bệnh nhân nam 54 tuổi và hiện nay vẫn còn sử dụng ăn nhai tốt. Ước tính tại Việt Nam mỗi năm có khoảng 20 đến 40 nghìn implant được cấy cho bệnh nhân. Trong vòng 22 năm qua, Implant nha khoa đã phát triển khá nhanh tại Việt Nam, các bác sĩ Việt Nam cập nhật kịp thời các kĩ thuật implant thế giới và thực hiện được tất các kĩ thuật từ đơn giản đến phực tạp, từ những trường hợp dễ đủ xương đến những tình huống phức tạp thiếu xương trầm trọng cần phải phục hồi thêm xương bằng cách ghép xương khối tự thân lấy từ vùng cằm, vùng chậu. Đặc biệt, trường hợp phẫu thuật dời thần kinh ổ răng dưới và cấy ghép implant đã được Bs Võ Văn Nhân thực hiện thành công và báo cáo tại Hội nghị Implant nha khoa năm 2013. Đây được xem là bước đột phá mới trong ngành nha khoa Việt Nam [1].

Ngày nay, thành công của implant về tích hợp xương nghĩa là implant đính vào xương sau khi cấy là vấn đề hiển nhiên và đã được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu như của Lorenzoni là 100% [3] hay của Fugazzotto là 98.3% [4]. Tuy nhiên thành công implant về thẩm mỹ lại là một thách thức rất lớn cho các bác sĩ lâm sàng. Như nghiên cứu của Jempt 1997 (tạp chí JPRD) tại Mỹ khảo sát 21 bệnh nhân được cấy implant trong vùng răng thẩm mỹ (vùng răng cửa hàm trên). Kết quả sau 1 năm cho thấy chỉ có 58% implant đạt thẩm mỹ, 42% implant thất bại về thẩm mỹ nhưng tất cả các implant này đều thành công về tích hợp xương (implant vẫn cứng chắc) [2].

Một điều chúng ta cần lưu ý rằng nghiên cứu của Bs Jempt được thực hiện tại Mỹ là một nước có nền giáo dục nha khoa hiện đại vào loại bậc nhất của thế giới, đồng thời điều kiện để các bác sĩ đủ tiêu chuẩn để hành nghề cũng rất nghiêm ngặt và chặt chẽ nhưng tỉ lệ thất bại về thẩm mỹ của implant do các Bs tại Mỹ điều trị rất cao 42%, điều đó có nghĩa là cấy implant trong vùng răng cửa thật sự rất khó đạt được thẩm mỹ, đây là một thách thức vô cùng to lớn. Như vậy vấn đề đặt ra là nguyên nhân từ đâu và cách khắc phục như thế nào? Cần tuân thủ các điều kiện gì để đạt kết quả thẩm mỹ mong muốn khi cấy implant trong vùng răng của hàm trên?

Biểu hiện lâm sàng của thất bại implant về mặt thẩm mỹ:

Loại thứ nhất là thiếu vắng vùng gai nướu, tạo tam giác đen giữa 2 răng (Hình 1). Đây là loại thường gặp nhưng biến chứng này chỉ ảnh hưởng đến những bệnh nhân có nụ cười hở nướu mà không ảnh hưởng lớn đến bệnh nhân có đường cười thấp, cười chỉ thấy răng.

Loại thứ hai, biến chứng nặng nề nhất về mặt thẩm mỹ là tụt nướu mặt ngoài làm lộ implant (Hình 2). Đây là trường hợp thất bại hoàn toàn về mặt thẩm mỹ, làm đau lòng cả bác sĩ và bệnh nhân. Những trường hợp này cũng khiến bác sĩ rất khó khăn và e ngại trong việc chỉ định implant trong điều trị vùng răng cửa. Đây là một cạm bẫy, một thách thức đối với người nha sĩ trong phẫu thuật implant.

Nguyên nhân:
Có thể kể ra 3 loại nguyên nhân chính đưa dến thất bại thẩm mỹ: (1): sai về chỉ định, (2) sai về kĩ thuật và (3) bất lợi về mặt giải phẫu của bệnh nhân. Nguyên nhân (1) và (2) do lỗi của Bs điều trị, nguyên nhân (3) do tình trạng lâm sàng bất lợi của bệnh nhân.

Sai lầm về chỉ định: Do không khảo sát kĩ tình trạng lâm sàng của bệnh nhân đưa đến chỉ định đặt implant tức thì sau nhổ răng trong trường hợp bệnh nhân đã bị tiêu phiến xương vỏ mặt ngoài, bệnh nhân có mô nướu mỏng, bênh nhân có nhiễm trùng răng, bệnh nhân có mào xương ổ thấp,….

Sai lầm về mặt kĩ thuật: Do phẫu thuật viện thiếu kinh nghiệm, đặt implant quá gần phiến xương vỏ mặt ngoài, đặt implant quá sâu, độ nghiêng implant quá lớn,…đặt implant không đúng vị trí theo 3 chiều và hướng trong không gian. Không ghép bổ sung xương trong trường hợp không đủ số lượng xương để đảm bảo có ít nhất 2mm xương bao quanh implant.

Bất lợi về mặt giải phẫu: Bệnh nhân có mô nướu mỏng, xương vỏ mặt ngoài mỏng, răng hình tam giác, đang có nhiễm trùng hiện diện, bệnh nhân có nhiều bệnh tổng quát làm giảm khả năng lành thương,…

Giải pháp: theo Bs Nhân có 5 nhóm giải pháp quan trọng sau đây: (1) khám đánh giá đúng tình trạng lâm sàng và xây dựng kế hoạch điều trị chu đáo, (2): chỉ định đúng, (3): kĩ thuật đúng, (4): đảm bảo đủ thể tích xương và nướu, (5): Bs có nhiều kinh nghiệm, (6): phục hình sứ nghệ thuật.

Khám đánh giá đúng tình trạng lâm sàng: đây là công việc thường được xem nhẹ trước khi bắt đầu một ca implant nhưng theo tôi lại là một mắc xích quan trọng nhất ảnh hưởng đến toàn bộ các quyết định và kĩ thuật điều trị sau này. Do vậy cần khám đánh giá tình trạng lâm sàng thật tỉ mỉ bao gồm: khảo sát tình trạng tiêu xương, kiểu khuyết hổng xương, tình trạng mô nướu, tình trạng viêm nhiễm vùng cần cấy implant cũng như vùng lân cận vì một răng nhiễm trùng có thể lan rộng và làm thất bại implant. Bên cạch đó, phải xem xét thêm hình thể của răng bênh cạnh vùng cần điều trị impplant cũng như tương quan khớp cắn với hàm răng đối diện. Như vậy, răng imlant sau này mới có thể ăn khớp và hài hòa với toàn bộ cung hàm cũng như nụ cười của bệnh nhân. Ngoài ra cũng phải quan tâm đến các bệnh tổng quát và khả năng lành thương cuả bệnh nhân để chọn lựa implant và vật liệu ghép phù hợp. Cần xác định được yếu tố thuận lợi để tận dụng cũng như phải phát hiện được yếu tố bất lợi và cạm bẩy để có giải pháp khắc phục. Những điều này phải thảo luận trước với bệnh nhân để bệnh nhân hiểu được và biết trước mức độ thẩm mỹ tối ưu mà Bs có thể đem lại cho họ chứ không phải lúc nào Bs cũng có thể đem lại kết quả tuyệt hảo. Thông thường có 2 xu hướng sau đây khi tình trạng lâm sàng quá phức tạp, quá nhiều yếu tố bất lợi: một là bệnh nhân phải chấp nhận thực hiện nhiều thủ thuật phức tạp, sử dụng vật liệu đặc biệt nên tăng chi phí và thời gian điều trị kéo dài; hai là bệnh nhân phải hạ yêu cầu mong muốn để chấp nhận một giải pháp đơn giản và ít tốn kém về chi phí và thời gian. Tuy nhiên cũng có thể xảy ra tình huống thứ 3 là phải chấp nhận một giải pháp ôn hòa, thỏa hiệp giữa thẩm mỹ và chức năng vì tình trạng của bệnh nhân quá phức tạp và giới hạn của những tiến bộ và các giải pháp khoa học của nhân loại hiện nay.

Chỉ định đúng: hạn chế đặt implant tức thì ngay sau nhổ răng và không lật vạt, tuy rằng kĩ thuật không lật vạt ít gây sang chấn cho bệnh nhân nhưng rất khó tiên lượng kết quả thẩm mỹ nên chỉ định phải thật dè dặt, chỉ thực hiện khi đảm bảo các điều kiện sau: bệnh nhân có mô nướu dày, phiến xương mặt ngoài còn nguyên vẹn, mào xương ổ thấp, răng có hình vuông hay oval,…phần lớn bệnh nhân Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng đều có mô nướu mỏng do vậy cần phải rất thận trọng trong chỉ định implant tức thì.

Trong những trường hợp khác nên đặt implant trì hoãn 2 – 4 tháng sau nhổ răng. Tùy theo kiểu khuyết xương, kết hợp ghép xương hay ghép nướu để làm tăng độ dày, đảm bảo có ít nhất 2mm xương bao quanh implant để chắc chắn implant thành công và ổn định về lâu dài.

Đặt implant đúng kĩ thuật: phải cấy implant đúng vị trí theo 3 chiều không gian trong tương quan với các răng bên cạnh, đồng thời hướng của implant cũng phải quan tâm đúng mức không đặt implant có hướng quá ra ngoài hay vào trong. Vì khi cấy implant quá ra phía ngoài sẽ làm răng bị dài, quá vào phía trong sẽ làm răng bị ngắn 2 trừng hợp này đều gây mất thẩm mỹ.

Đủ thể tích xương và nướu:

 Đây là yếu tố được xem là cực kì quan trọng khi đảm bảo implant thành công và kết quả thẩm mỹ ổn định về lâu dài. Nếu xương đủ và nướu dày là yếu tố thuận lợi cho tiên lượng tốt.

Trong trường hợp thiếu xương hay nướu cầm ghép bổ sung 2 loại mô này để đảm bảo có đủ 2mm xương bao quanh implant và mô nướu dày tối thiểu 1,1mm và phải có nướu sừng hóa bao quanh implant. Vì lí do này nên hầu hết các trường hợp cấy implant trong vùng thẩm mỹ cần phải ghép thêm xương và thêm nướu.

Về vật liệu ghép xương: cho đến nay, xương thật của bệnh nhân vẫn là vật liệu tốt nhất vì có chứa các yếu tố tăng trưởng giúp nhanh lành thương, có tế bào xương còn sống, hạn chế khả năng phản ứng loại trừ. Do vậy, trong những trường hợp có khuyết xương lớn, tiêu xương nhiều phải chọn vật liệu ghép là xương thật của bệnh nhân có thể lấy từ vùng cằm, vùng góc hàm, vùng chậu. Còn trong những tình huống có khuyết xương nhỏ cần ghép xương ít thì có thể sử dụng các vật liệu nhân tạo thay thế xương.

Bs có nhiều kinh nghiệm:

Đây là điều kiện cực kì quan trọng quyết định đến thành công của toàn bộ quá trình điều trị chứ không phải là loại implant vì mỗi loại implant đều có ưu và nhược điểm riêng tùy theo tình huống lâm sàng của bệnh nhân mà Bs chọn lựa cho phù hợp chứ không có nghĩa là implant càng mắc tiền thì càng tốt. Bởi vì việc xây dựng kế hoạch điều trị chuẩn xác là quan trọng phụ thuộc vào kinh nghiệm của Bs điều trị. Dựa trên việc thăm khám và đánh giá tình trạng mô nướu và tình trạng xương hàm, hình thể khuyết xương của bệnh nhân để quyết định các vấn đề sau: số lượng implant và loại implant để khi vặn implant vào có sự chắc chắn, phương pháp xử lí bề mặt của implant để có sự lành xương nhanh và loại phục hình dự kiến sau này. Ngoài ra Bs cũng quyết định có ghép xương hay không và loại vật liệu ghép nào là thích hợp, Ví dụ: trong trường hợp khi có khuyết xương lớn và tiêu xương trầm trọng cần ghép xương tự thân của bệnh nhân thì mới đem lại kết quả tốt chứ xương nhân tạo không thể áp dụng trong trường hợp này vì xương nhân tạo không có các yếu tố tăng trưởng như xương tự thân nên quá trình mọc xương chậm, đôi khi không thể lành xương để cấy implant. Phải tuân thủ nguyên tắc có đủ 2mm xương bao quanh implant để implant thành công ổn định lâu dài. Do vậy, vấn đề ghép xương trong cấy ghép implant luôn cần được quan tâm đúng mức. Ngoài ra, mô nướu săn chắc cũng cần được chú trọng, thậm chí phải ghép nướu trong cấy ghép implant để đảm bảo implant không bị viêm sau này. Do vậy, điều trị implant là một chuỗi các quá trình liên hoàn bổ sung cho nhau bao gồm xây dựng kế hoạch điều trị, cấy implant đúng vị trí và hướng, ghép bổ sung xương và nướu khi cần thiết chứ không đơn thuần là việc cấy implant hay chọn loại implant nào đó.

Phục hình sứ nghệ thuật: thẩm mỹ của răng nói chung hay răng trên implant nói riêng có thể chia thành 2 phần: thẩm mỹ hồng hay còn gọi thẩm mỹ của nướu và thẩm mỹ trắng là thẩm mỹ răng. Sứ trên implant là phần phơi bày ra bên ngoài cho mọi người nhìn thấy nên yêu cầu thẩm mỹ răng rất quan trọng nếu như phần này làm không đạt yêu cầu thì tất cả các quá trình điều trị ở trên xem như uổng phí. Răng sứ phải có hình dáng, màu sắc và những đặc điểm riêng trong sự tương đồng và hài hòa với các răng bên cạnh, với môi và nụ cười bệnh nhân cũng như phải phù hợp về khớp cắn thì mới có thể ăn nhai tốt.

Sau dây xin giới thiệu một số trường hợp thất bại về thẩm mỹ do không tuân thủ các điều kiện cấy implant trong vùng răng thẩm mỹ:

Trường hợp thứ 1 (Hình 1) là ca lâm sàng được trích dẫn từ tài liệu của Bs Buser, sai lầm ở đây là do: đặt implant sai vị trí, implant đặt quá gần phiến xương vỏ mặt ngoài nên không đủ 2mm xương bao quanh implant, implant đặt quá sâu, bệnh nhân có mô nướu mỏng và hậu quả là tiêu phiến xương vỏ mặt ngoài, tụt nướu và lộ implant.
Trường hợp thứ 2 (Hình 2) là ca lâm sàng của BS Rapoport lộ implant cũng có cùng nguyên nhân trên. Do vậy, những biến chứng này cũng phổ biến của các đồng nghiệp mới bắt đầu điều trị implant trên thế giới chứ không phải riêng ở Việt Nam chúng ta.

Sau đây xin giới thiệu 2 trường hợp thành công do tuân thủ đúng các nguyên tắc điều trị implant trong vùng thẩm mỹ:

 Trường hợp thứ 3 (Hình 3) là ca lâm sàng được thực hiện bởi Bs Võ Văn Nhân đây là trường hợp khó vì bệnh nhân có tình trạng lâm sàng bất lợi: tiêu xương bị tiêu, mô nướu mỏng và có 2 implant đứng gần nhau. Do vậy kế hoạch điều trị trong trường hợp này là cấy ghép implant có ghép xương dùng xương tự thân của bệnh nhân kết hợp xương nhân tạo, nhưng ghép bằng kĩ thuật đặc biệt dùng lõi xương thật của bệnh nhân ghép vào giữa 2 implant để nâng đỡ gai nướu giữa 2 implant, đồng thời phẫu thuật thì 2 làm tăng độ dày mô nướu và tạo gai nướu giữa 2 implant. Trường hợp này thành công mỹ mãn vì đã đánh giá đúng tình trạng ban đầu, có kế hoạch điều trị tốt, tuân thủ đúng các nguyên tắc ghép xương, sử dụng đúng vật liệu ghép tự thân, cấy ghép implant đúng vị trí, đồng thời có xử lí làm tăng độ dày mô nướu.
 

Trường hợp thứ 4 (hinh 4):  là ca lâm sàng được thực hiện bởi Bs Võ Văn Nhân đây là trường hợp cực kì khó vì bệnh nhân mất xương trầm trọng theo chiều dọc và chiều ngang. Khuyết xương nhìn thấy rõ trên lâm sàng.

Kế hoạch điều trị trong trường hợp này là phải ghép xương và vật liệu tốt nhất trong trường hợp này là xương tự thân của bệnh nhân được lấy từ vùng hậu hàm, chứ không thể ghép bằng xương nhân tạo vì khuyết hổng quá lớn. Trường hợp này cũng có kết quả thành công mỹ mãn vì đã có kế hoạch điều trị tốt tuân thủ đúng các nguyên tắc ghép xương, sử dụng đúng vật liệu  ghép, cấy ghép implant đúng vị trí, đồng thời có xử lí làm tăng độ dày mô nướu.

Kết luận: Từ những phân tích trên cho thấy cấy ghép implant trong vùng thẩm mỹ là cực kì khó khăn và thách thức đòi hỏi bác sĩ điều trị có nhiều kiến thức, kinh nghiệm cũng như các kĩ năng lâm sàng hỗ trợ như ghép xương, ghép nướu chứ không đơn thuần chỉ là cấy implant. Ngoài ra, việc thăm khám đánh giá tình trạng lâm sàng của bệnh nhân phải được thực hiện cẩn thận và chu đáo để xác định được những yếu tố thuận lợi cần tận dụng, nhưng quan trọng hơn phải phát hiện cho được những yếu tố bất lợi và cạm bẫy có thể đưa đến thất bại để đề ra các giải pháp khả thi và thiết thực nhằm khắc phục các yếu tố bất lợi này trước khi bắt đầu điều trị. Do vậy, các bạn có nhu cầu làm implant nên chọn Bs có kinh nghiệm và hiểu biết toàn diện chứ các bạn không nên tự tìm hiểu và quyết định chọn loại implant của hãng này hay hãng khác vì bản thân implant không đóng vai trò quyết định cho toàn bộ quá trình điều trị cũng như kết quả lâu dài vì kết quả điều trị implant phụ thuộc vào quá nhiều yếu tố chỉ có bác sĩ có kinh nghiệm mới có cái nhìn tổng thể bao quát và xử lí được các cả các yếu tố nêu trên

 

Những trường hợp không thể nhổ răng

 

 Các trường hợp không thể nhổ răng có thể liền có thể do bệnh lí toàn thân hay tai chỗ.

Các bệnh lí toàn thân bao gồm các bệnh lí về đông máu, bệnh tim mạch không kiểm soát, bệnh mác ác tính, bệnh tiểu đường không kiểm soát và một số loại thuốc điều trị. Trong những trường hợp này nên tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa và chỉ can thiệp khi bệnh lí của bệnh nhân đã ổn định sau điều trị nội khoa.

Các bệnh lí tại chỗ bao gồm những răng trong vùng đang điều trị xạ trị và bị nhiễm trùng cấp tính. 

 
 

Nha chu - bệnh nguy hiểm trong nha khoa

 Nha chu là bệnh của các mô quanh răng. Nếu không được điều trị, bệnh tiến triển đưa đến mất răng. Bệnh nha chu tiến triển chậm, không có các dấu hiệu gì đặc biệt, không đau, hoặc ít đau nên nhiều người thường bỏ qua. Tuy nhiên, hậu quả do bệnh nha chu gây ra lại đặc biệt nghiêm trọng, nếu được chẩn đoán và điều trị sớm có thể giảm nhẹ nguy cơ mất răng.

Nguyên nhân chính gây ra bệnh nha chu là sự tích tụ của vi khuẩn độc hại trong mảng bám hoặc thức ăn vụn còn vương lại các kẽ răng mà bạn không thể vệ sinh sạch sẽ được. Nếu không được loại bỏ sớm, các mảng bám này tiếp tục bám trên răng. Mảng bám kích thích nướu, làm nướu viêm đỏ, bở, sưng, chảy máu lúc chải răng, dùng tăm xỉa răng. Lâu dài, mảng bám trở nên cứng và được gọi là vôi răng. Vôi răng không thể được lấy đi bằng cách chải răng thông thường, mà chỉ có thể được làm sạch bởi việc điều trị nha khoa với những dụng cụ chuyên biệt. 

Bệnh viêm nướu có khả năng hồi phục, nhưng nếu không điều trị có thể tiến triển sang viêm nha chu khi mô liên kết nướu với răng bị phá hủy. Khi đó túi mủ sẽ được tạo thành giữa răng và nướu (gọi là túi nha chu). Các vi khuẩn độc hại trong mảng bám và vôi răng tiếp tục tích tụ trong túi nha chu này làm xương nâng đỡ răng bị tiêudẩn đến răng bị lung lay, miệng có mùi hôi khó chịu.

Có một số yếu tố làm thay đổi phản ứng của nướu đối với mảng bám hoặc vôi răng, do đó làm thay đổi sự đáp ứng của cơ thể đối với bệnh nha chu và làm bệnh nặng hơn như: hút thuốc lá, bệnh đái tháo đường, tình trạng căng thẳng, tật nghiến răng, thai nghén, dậy thì, chế độ ăn uống và dinh dưỡng, các rối loạn hệ miễn dịch.

Để phòng ngừa bệnh nha chu, chúng ta nên: chải răng đều đặn ngày ba lần sau mỗi bữa ăn chính để loại bỏ mảng bám. Sử dụng thêm chỉ nha khoa để làm sạch các mặt bên của răng. Ăn uống cân bằng, đủ chất. Tránh ăn vặt với thức ăn dính, ngọt.

Định kỳ 3-6 tháng đến khám tại các phòng chuyên khoa răng hàm mặt để kiểm tra sức khỏe răng miệng và cạo vôi răng nếu cần thiết. Việc cạo vôi răng sẽ giúp: phòng ngừa được bệnh nha chu; có hàm răng sạch, bóng và đẹp; tự tin hơn trong giao tiếp hằng ngày.

 
 
 
 
 
 
  LÝ DO BẠN CHỌN  |   TƯ VẤN KHÁCH HÀNG  |   BẢNG GIÁ  |   THĂM DÒ  |   SƠ ĐỒ CHỈ ĐƯỜNG
 

© 2009 TRUNG TÂM NHA KHOA